Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Hiện tượng học tinh thần (Hegel) - LỜI TỰA VỀ NHẬN THỨC KHOA HỌC TOÁT YẾU phần 1

                                      TOÁT YẾU VÀ CHÚ GIẢI DẪN NHẬP (§§1-72)
                                                               --------o0o-------
                                   LỜI TỰA VỀ NHẬN THỨC KHOA HỌC TOÁT YẾU

1. Không thể mở ñầu một tác phẩm triết học bằng cách giải bày về mục ñích hay quan ñiểm nó ñịnh thiết lập, hoặc về mối quan hệ của nó với những gì người khác ñã viết ra. Vì lẽ triết học nhắm ñến tính phổ biến vốn bao hàm những cái ñặc thù và cá biệt, nên không thể phát biểu ñiều gì trước khi tất cả những cái ñặc thù và cá biệt này ñược trải nghiệm và tính phổ biến nói trên thực sự ñược thu hoạch. Ta không thể có môn Giải phẩu học mà không biết những bộ phận của nó có chức năng gì trong cái toàn bộ.

2. Nhấn mạnh ñến mối quan hệ của một tác phẩm triết học với những công trình khác cũng là việc làm sai lạc, vì ñiều này tạo nên cảm tưởng rằng những công trình khác ñều là sai và bây giờ ñược dẹp bỏ bằng cái ñúng. Thật ra, các hệ thống triết học không thay thế cái sai bằng cái ñúng: tất cả chúng ñều thể hiện sự phát triển ngày càng sáng tỏ hơn của Chân lý. Chân lý chỉ hoàn chỉnh trong sự phát triển toàn bộ bao hàm tất cả mọi giai ñoạn phát triển trước ñó, giống như nụ, hoa, quả ñều là các giai ñoạn thiết yếu và tương hỗ của chỉnh thể hữu cơ, tạo nên sự sống của cái toàn bộ.

3. Nêu các mục ñích và kết quả của công cuộc nghiên cứu triết học là việc làm chính ñáng chỉ trong chừng mực xem ñó là khởi ñiểm còn hời hợt của nhận thức, chứ không phải là phát lộ bản chất của Sự việc [ñối tượng nghiên cứu]. Vì bản chất này không ñược tát cạn chỉ ở trong mục ñích mà ở trong việc thực hiện ñầy ñủ chi tiết về nó như thế nào. Nó cũng không nằm ở kết quả mà ở chỗ những kết quả ấy ñược hình thành nên ra sao. Chỉ nêu kết quả mà không nói rõ bằng cách nào ñi ñến ñược kết quả ấy thì chỉ là trưng bày một cái xác chết. Phán ñoán về một sự việc là dễ dàng nhất; khó hơn là nắm bắt bản chất của nó; khó hơn cả là hợp nhất hai việc ấy lại ñể hình thành nên sự trình bày có hệ thống về nó.

4. Những Nguyên tắc và quan ñiểm chung chung, khái quát chỉ mới là khởi ñiểm của ñời sống tư tưởng. Khi tâm trí ñã thực sự thâm nhập sâu vào Sự việc – bằng kinh nghiệm sống thực và sự nghiêm chỉnh của Khái niệm –, chúng trở lại với vị trí thích ñáng dành cho chúng: ở trong sự ñàm luận hời hợt thường ngày.

5. Chân lý triết học chỉ có thể hiện hữu trong hình thức của Hệ thống khoa học ñã ñược khai triển hoàn toàn. Triết học phải cho thấy sự tất yếu nội tại ñã thúc ñẩy cái biết trở thành khoa học; và bản thân nó phải hiện thân sự thúc ñẩy này khi Thời ñiểm thích hợp ñã tới.

6. Hình thái ñúng thật của Chân lý là có tính Khái niệm. Ở bước ñầu này, ta chỉ có thể khẳng ñịnh lập trường này một cách sơ bộ ñể chống lại lập trường [của phái lãng mạn như Jacobi, Novalis, Schlegel...], những người muốn biến Trực quan (Anschauung) trực tiếp, phi-lý tính, vô-khái niệm và biến cảm xúc (Gefühl) thành phương pháp trong triết học và xem ñó là bản thân sự tồn tại của cái Tuyệt ñối.

7. Lập trường này của họ nảy sinh từ lòng mong mỏi – sau khi đã mất hết ảo tưởng và thất vọng ê chề – muốn ñược quay trở về lại với sự an bình của lòng tin không thắc mắc mà tư duy triết học ñã phá vỡ. Ðiều họ mong mỏi nơi triết học không phải là khai thông sự khép kín kiên cố của Bản thể, cũng không phải ñể nâng ñời sống bản thể lên cấp ñộ sáng sủa của Tự-ý thức. Họ khinh thường và ñè nén tư duy Khái niệm, vì mục ñích của họ là sự phấn khích nội tâm hay “nâng cao tâm hồn” (Erbauung) và sự xuất thần (Ekstase) hơn là sự thức nhận (Einsicht) lạnh lùng của Khái niệm.

 8. Các quan niệm ấy là nỗ lực quay trở lại với cái nhìn hướng lên trời của thời kỳ tư duy nguyên thủy, trước khi tư duy ấy buộc phải hướng xuống ñất, ñi vào lãnh vực thường nghiệm để rồi nay Tinh thần cảm thấy mệt mỏi, cùn nhụt trước vô vàn chi tiết của kinh nghiệm trần thế.

 9. Tuy nhiên, khoa học ñích thực [triết học] không thể thỏa mãn khi ñể cho mọi chi tiết bị bao phủ bởi lớp sương mù thần bí và tiêu biến ñi trong cõi mơ hồ của sự phấn khích nội tâm.

10. Sự hài lòng dễ dãi – khi xem những Khái niệm ñược biện biệt chính xác và những sự nối kết tất yếu của khoa học là hữu hạn – không thể tự xưng là ñứng lên trên cấp ñộ khoa học ñược. Những chỗ tự xưng là uyên áo, thâm sâu của nó là trống rỗng; những khẳng quyết mơ hồ của nó là hời hợt và những tuyên bố có tính tiên tri của nó là tùy tiện và giả tạo.

 11. Thời đại hiện nay của chúng ta rõ ràng đã chín muồi cho một bước phát triển lớn lao về trí tuệ và tinh thần. Thời ñại mới ñã lớn lên âm thầm và lâu dài “trong bụng mẹ”, và bây giờ ñến lúc sinh nở. Những cơn ñau ñẻ của nó ñược cảm nhận rộng khắp từ sự thất vọng, chán nản và cả từ dự cảm mơ hồ về một ñổi thay ñang ñến gần.

12. Tinh thần khoa học mới mẻ thoạt đầu chỉ hiện diện ở dạng mầm mống, còn chung chung, khái quát. Nó là sản phẩm của một sự chuyển hóa vất vả, lâu dài của những hình thái tinh thần (văn hóa) trước ñó và là sự tóm lược chúng lại trong một “tính đơn giản” mới. “Tính đơn giản” này phải trở nên hoàn toàn hiện thực, phải tái-phát triển những hình thái ấy, ñưa chúng ra khỏi tính nhất thể ñơn giản để đi vào môi trường hay chất liệu (Element) mới mẻ.

Hiện Tượng học tinh thần - Hegel
http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/BuiVanNamSon/Hegel-HTHTinhThan/Hegel-HTHTinhThan-Tab.htm

Lời tựa về nhận thức khoa học
http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/BuiVanNamSon/Hegel-HTHTinhThan/01%20Hegel-HTHTT-%20Toat%20yeu%20&%20Chu%20giai%20dan%20nhap%20_1-72_.pdf


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét